Trong trước tác quan trọng Đặt cơ sở Siêu hình học Đạo đức (1785; Grundlegung zur Metaphysik der Sitten; Anh ngữ: Groundwork of the Metaphysics of Morals), Kant phân tích chiếu xét đến từng "chân tơ kẽ tóc" về đạo nghĩa, phẩm hạnh - cùng những nan đề luân thường đạo lý.
Triết học và đạo đức của Socrates và Plato đã dạy những người đi trên con đường của đức hạnh. Theo quan điểm của họ, nếu một người có đủ kiến thức, nó là một nguồn tiềm năng tạo ra sự giận dữ. Như một ví dụ, họ trích dẫn nhân đức can đảm, được tạo
Chủ nghĩa Mác-xít dưới nhãn quan triết học. Giá: 40,000 ₫. Lịch sử triết Tây từ thời cổ đại đến ngày nay. Giá: 63,000 ₫. Giáo trình triết sử cận đại. Giá: 30,000 ₫. Chúng ta có thể học gì từ phương Đông. Giá: 50,000 ₫.
24/11/2015 Trên cơ sở làm rõ tự do và trách nhiệm với tư cách những phạm trù đạo đức cơ bản trong triết học hiện sinh qua việc làm rõ quan niệm của các nhà triết học hiện sinh tiêu biểu (E.Husserl, M.Heidegger, K.Jaspers, J.P.Sartre và A.Camus) về những phạm trù này, tác giả bài viết bước đầu đưa ra những ý kiến
Sự diệt vong của vua Trụ và triều đại nhà Thương chính là nguyên nhân của việc coi thường những giá trị đạo đức, đối lập hoàn toàn với tư tưởng trị nước của vua Nghiêu, vua Thuấn. Bước vào giai đoạn Tây Chu từ thế kỷ XI đến thế kỷ VIII trước công nguyên, nhà Chu được coi là tồn tại lâu hơn so với nhà Ân.
.
1. Khái niệm đạo đứcĐạo đức là gì?Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos moris – lề thói, moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa. Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề thói; tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức phương đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên. Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Như vậy có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân nay, đạo đức được định nghĩa như sau đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã định nghĩa này có mấy điểm cần chú ý sauĐạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội học trước Mác không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề nguồn gốc và thực chất của đạo đức. Nó xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng đế”, “ý niệm tuyệt đối, lý tính trừu tượng”, bản tính bất biến của loài người,…chứ không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ quan niệm xã hội hiện thực xã hội để suy ra toàn bộ lĩnh vực tư tưởng trong đó có tư tưởng đạo Mác và Ăngghen, trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lí học, con người đã hoạt động, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống. Ý thức xã hội của con người là phản ánh tồn tại xã hội của con người. Các hình thái ý thức xã hội khác nhau tuỳ theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội và tác động riêng biệt đối với đời sống xã hội. Đạo đức cũng vậy, nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người. Và cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo điều mang tính chất của kiến trúc thượng tầng. Chế độ kinh tế xã hội là nguồn gốc của quan điểm này thay đổi theo cơ sở đã đẻ ra nó. Ví dụ Thích ứng với chế độ phong kiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột chặt vào ruộng đất là đạo đức chế độ nông nô. Thích ứng với chế độ tư bản, dựa trên cơ sở bóc lột người công nhân làm thuê là đạo đức tư sản. Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo ra một nền đạo đức biểu hiện mối quan hệ hợp tác trên tình đồng chí và quan hệ tương trợ xã hội chủ nghĩa của những người lao động đã được giải phóng khỏi ách bóc lột. Như vậy, sự phát sinh và phát triển của đạo đức, xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định.– Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức…Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người theo khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa. Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào, người ta cũng đều được đánh giá như vậy. Các khái niệm thiện ác, khuôn khép và qui tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác. Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định. Những khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân. Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội đối với tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối địch… và đối với người khác. Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp, dân tộc thừa nhận. Ở đây quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác khuôn khép hành vi là tiền đề của hành vi đạo đức của cá nhân. Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của lương tâm…Cá nhân phải chuyển hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình. Biểu hiện của sự chuyển hóa này là hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực phù hợp với những đòi hỏi của xã hội…Do vậy sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người.– Đạo đức là một hệ thống các giá trị là đối tượng của giá trị học giá trị học phân loại các hiện tượng giá trị theo quan niệm đã được xây dựng nên một cách truyền thống về các lĩnh vực của đời sống xã hội, các giá trị vật chất và tinh thần, các giá trị sản xuất, tiêu dùng, các giá trị xã hội – chính trị, nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo1. Đạo đức là một hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực mệnh lệnh, đánh giá rõ hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khẳng định, hoặc là phủ định một hình thức chính đáng, hoặc không chính đáng nào đó. Nghĩa là nó bài tỏ sự tán thành hay phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng trong một xã hội nhất định. Vì vậy, đạo đức là một nội dung hợp lệ thống trị xã hội. Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức. Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo. Ngược lại, thì hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân Nguồn gốc, bản chất của đạo đứca/ Nguồn gốc của đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ trong tồn tại xã hội, từ những quan hệ của con người với tự nhiên và quan hệ giữa người với nhau trong cuộc sống– Đạo đức là hệ thống những quan điểm, quan niệm, những nguyên tắc, chuẩn mực, những giá trị của xã hội nên đạo đức thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội, nó phản ánh tồn tại xã hội. Đạo đức ra đời và phát triển là do nhu cầu phải điều tiết mối quan hệ giữa các cá nhân và hoạt động chung của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Quan hệ đạo đức biểu hiện quan hệ của con người trước tiên là quan hệ trong sản xuất Cơ sở kinh tế của xã hội như thế nào thì ý thức đạo đức của xã hội như thế ấy. Khi đời sống vật chất của xã hộï biến đổi, xã hội ngày càng tiến bộ thì những quan niệm đạo đức, những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức cũng biến đổi theo và ngày càng được hoàn thiện. Do vậy đạo đức là hiện tượng có tính lịch sử xã hội. Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, ở mỗi giai cấp khác nhau thì có các quan điểm khác nhau về cái tốt, cái xấu; cái thiện, cái ác, hạnh phúc và bất hạnh ; về lương tâm và vô lương tâm cũng như về nghĩa vụ, trách nhiệm . Trong lịch sử, có đạo đức của xã hội nguyên thủy, của xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo đức của xã hội phong kiến, đạo đức của xã hội tư bản chủ nghĩa và đạo đức của xã hội cộng sản chủ nghĩa.– Trong xã hội có đối kháng giai cấp thì đạo đức cũng có tính giai cấp, nghĩa là tùy thuộc vào vị trí xã hội, địa vị xã hội và lợi ích giai cấp khác nhau mà các quan điểm về đạo đức cũng khác nhau. Đạo đức của giai cấp bóc lột thường đối lập với đạo đức của quảng đại quần chúng lao động và toàn xã hội.– Đạo đức cũng có tính kế thừa. Lênin nói rằng tính kế thừa của đạo đức phản ánh “ những luật lệ đơn giản và cơ bản của bất kỳ cộng đồng người nào”. Mọi thời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội vv. và biểu dương cái Thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn…– Trong xã hội không có giai cấp hoặc không có đối kháng giai cấp thì đạo đức xã hội phù hợp với đạo đức cá nhân. Xã hội đó sẽ có được một nền đạo đức thật sự nhân đạo, vượt lên trên mọi sự đối lập về giai cấp. Đó là trình độ của xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ Bản chất đạo trưng của đạo đức là năng lực ý thức và hành động tự nguyện, tự giác của con người vì cái Thiện.– Lẽ tất nhiên của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người đòi hỏi con người sống trong cộng đồng phải biết tuân thủ những nguyên tắc và những chuẩn mực do xã hội đề ra để điều chỉnh quan hệ của mình. Có nhiều loại chuẩn mực xã hội, trong đó những nguyên tắc chuẩn mực được thực hiện một cách tự giác nhằm điều chỉnh quan hệ giữa cá nhân này với cá nhân khác và với xã hội vì hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội được gọi là những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức– Hoạt động đạo đức của con người là hoạt động bao gồm ý thức và hành vi vì cái Thiện. Đồng thời hoạt động đạo đức là hoạt động có tính tự giác và tự nguyện. Tự nguyện, tự giác là nét đặc trưng cho xã hội loài người. Tự giác ở đây có nghĩa là hiểu rõ công việc của mình có ích cho xã hội và sự khao khát được hành động vì lợi ích đó. Tự nguyện là thực hiện hành động không vì sự bắt buộc từ bên ngoài mà do sự tự giác của chủ thể. Con vật với hoạt động sống bản năng không thể có được tính xã hội và tính tự giác của con người. Tự nguyện và tự giác quan hệ chặt chẽ nhau tạo thành một trong những cơ sở của tự do của con người. Ý thức đạo đức về lương tâm, danh dự và lòng tự trọng, tính tự nguyện và tự giác cao đem lại cho con người năng lực tự chủ , từ đó hành động một cách tự do. Đó là sức mạnh hữu hiệu của đạo đức.– Mục đích cao cả nhất của con người và xã hội là được tự do và hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó con người không ngừng phấn đấu một cách tự nguyện tự giác vì lợi ích của người khác và lợi ích của xã hội. Mặt khác hạnh phúc còn đòi hỏi có sự hài hoà lợi ích giữa cá nhân và lợi ích của cộng đồng. Vì lẽ đó mà thước đo của đạo đức tiêu chuẩn giá trị của đạo đức là tất cả những gì tích cực phù hợp với lợi ích chân chính của con người và tiến bộ xã hội. Nói một cách khác tiêu chuẩn của đạo đức là cái thiện, đối lập với cái thiện là cái ác. Như vậy có thể định nghĩa một cách khái quát về đạo đức như sauĐạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là sự tổng hợp những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã Sự bao quát các mặt khác nhau của hiện tượng đạo đứcNhìn một cách toàn diện, ở góc độ triết học, đạo đức là một hình thái của ý thức xã hội; ở góc độ xã hội học, đạo đức là một loại quan hệ xã hội; ở góc độ tâm lý học, đạo đức là một loại hoạt động xã hội. Đạo đức học hiện đại hiểu và sử dụng khái niệm đạo đức theo cả 3 góc độ triết học, xã hội học và tâm lý học nói trên. Như vậy đạo đức là một hiện tượng gồm 3 mặt quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức và hoạt động đạo Quan hệ đạo đứcQuan hệ đạo đức là một loại quan hệ xã hội đặc biệt gồm các đặc điểm sauĐó là quan hệ giữa 2 chủ thể về lợi ích và nghĩa vụ đối với nhau cho nên quan hệ đạo đức có tính khách quan. Ngoài ra quan hệ đạo đức còn chứa đựng nhận thức và thái độ chủ quan của mỗi chủ thể. Vì thế, quan hệ đạo đức cũng có tính chủ hệ đạo đức được thực hiện một cách tự giác, tự Ý thức đạo đứcÝ thức đạo đức bao gồm tình cảm đạo đức, lý trí đạo đức và ý chí đạo đức.– Tình cảm đạo đức là những tình cảm làm động cơ cho hành vi đạo đức như tình cảm nghĩa vụ, lòng tự trọng, tình cảm gia đình, tình bạn, tình yêu, lòng yêu nước… Mọi cảm xúc của con người nảy sinh trong quan hệ đạo đức cũng là những biểu hiện của tình cảm đạo đức. Ví dụ sự cảm động, sự thông cảm, sự vui sướng, sự hối hận… Trái lại, sự dửng dưng, lạnh nhạt, thờ ơ… là tình trạng thiếu tình cảm đạo đức của chủ thể.– Lý trí đạo đức là toàn bộ những nguyên tắc, chuẩn mực và những quy tắc do xã hội đề ra và được từng cá nhân tiếp thu, từ đó định hướng cho tình cảm và hành vi đạo đức của mình một cách đúng đắn. Những nguyên tắc đạo đức là yêu cầu cơ bản, khái quát nhất. Mỗi nguyên tắc đó sẽ được cụ thể hóa ra thành những chuẩn mực cụ thể hơn. Mỗi chuẩn mực lại được cụ thể hóa thành những quy tắc khác nhau. Các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức đều chứa đựng những giá trị đạo đức được xã hội thừa nhận.– Ý chí đạo đức Là năng lực xác định mục đích cho hành động và hướng hành động của mình khắc phục những khó khăn nhằm đạt mục đích đó; là sự thống nhất cao độ của lý trí và tình cảm đạo đức. Nó thể hiện niềm tin và sự quyết tâm cho nên nó là yếu tố quan trọng giúp con người vượt qua mọi thử thách của hoàn cảnh để giữ gìn nhân phẩm và danh dự của Hoạt động đạo đứcHoạt động đạo đức là hoạt động được đánh giá về mặt đạo đức và được biểu hiện cụ thể bằng những hành vi đạo đức.– Hành vi đạo đức bao gồm 2 mặt cơ bảnMặt thứ nhất về mặt chủ quan Đó là động cơ của hành vi. Động cơ của hành vi là nguyên nhân bên trong thúc đẩy chủ thể hành động để thỏa mãn một nhu cầu nào đó. Động cơ bao gồm nhiều loại lợi ích, sở thích, tình cảm, lý tưởng và nhiều hiện tượng tâm lý khác. Động cơ của hành vi là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hành vi đạo thứ hai về mặt khách quan hành vi đó tạo ra một kết quả có lợi cho cuộc sống và sự phát triển của một chủ thể khác cá nhân, tập thể hoặc xã hội.– Đánh giá hành vi về mặt đạo đức là sự thẩm định gía trị đạo đức của hành vi dựa trên những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội. Đánh giá một hành vi đạo đức bao gồm sự đánh giá kết quả hành vi tức là đánh giá yếu tố khách quan và đánh giá cả động cơ của hành vi tức là yếu tố chủ quan , trong đó động cơ của hành vi được xem là tiêu chuẩn quan trọng hàng vi đạo đức là hành vi được quyết định bởi động cơ làm việc vì lợi ích của người khác và xã hội một cách vô tư, bởi sự đồng cảm và lòng nhân đạo. Đồng thời động cơ đạo đức có tính tự giác, tự đánh giá động cơ của hành vi phức tạp hơn nhiều so với sự đánh giá kết quả của hành vi. Động cơ hành vi thường bị ẩn kín, thường không biểu hiện ra một cách thực tại và trực quan, phải nhờ vào hoạt động của lý trí mới nhận ra được. Nhưng chúng ta chẳng có cách nào khác hơn là căn cứ vào việc làm cụ thể của con người để hiểu động cơ của họ. Bởi vì những ý định, những động cơ bên trong không tồn tại một cách cô lập với cái khách quan bên ngoài; nguyên nhân biểu hiện ở kết quả; bản chất và hiện tượng vừa mâu thuẫn vừa thống nhất nhau. đã đưa ra lời giải đáp rõ ràng về vấn đề này Chúng ta sẽ phán đoán về “những ý đồ và tình cảm” của những cá nhân căn cứ vào những dấu hiệu nào? Rõ ràng là chỉ có một dấu hiệu thôi- những hành động của những cá nhân Chức năng của đạo đứcĐạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ trong tồn tại xã hội đồng thời nó cũng tác động trở lại đối với sự phát triển của tồn tại xã hội. Nó góp phần quan trọng vào việc xây dựng mối quan hệ giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội. Đạo đức giáo dục con người, giúp họ nhận thức và điều chỉnh suy nghĩ, hành động phù hợp với những yêu cầu xã hội. Đạo đức có những chức năng cơ bản sau đâya/ Chức năng giáo dục– Đạo đức có tác dụng hình thành ở con người những quan điểm về bản chất của đạo đức, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức; nhờ đó con người hiểu được điều gì nên làm, điều gì không nên làm.– Thông qua hoạt động đạo đức của bản thân, mỗi người tự mình càng hiểu rõ hơn vai trò to lớn của lương tâm, của danh dự và các phẩm chất đạo đức của cá nhân đối với sự tiến bộ của chính mình và sự tiến bộ của cộng đồng. Đó là những bài học đạo đức mà chủ thể tự rút ra được nên chúng có giá trị sâu sắc và lâu bền. Trên cơ sở đó, chủ thể đạo đức càng tin tưởng và tích cực làm điều thiện.– Những tấm gương đạo đức cao cả cùng với những giá trị của nó có sức rung cảm mạnh mẽ làm thức tỉnh những tình cảm đạo đức trong tâm hồn con người, có sức lôi cuốn, thôi thúc con người học tập, rèn luyện vươn tới cái tốt đẹp, cái thiện. Thực tiễn đấu tranh cách mạng cho thấy những người cộng sản là những người sáng tạo nên những giá trị đạo đức cao cả. Đó là tinh thần chiến đấu dũng cảm, sự hy sinh quên mình… vì tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Những tấm gương ấy có sức thuyết phục và cổ vũ con người học tập, tu dưỡng để xứng đáng hơn nữa và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng xã hội Hồ đã nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng. Người coi đạo đức là cái gốc của cán bộ, đảng viên. Noi gương của Người, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã lao động, chiến đấu quên mình, sẵn sàng hy sinh, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì lý tưởng cao đẹp của con vậy, đạo đức không những giáo dục con người mà còn giúp con người nâng cao năng lực tự giáo dục mình. Do đó, công tác giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển nhân cách con người mớib/ Chức năng nhận thức còn gọi là chức năng đánh giá.Các quan điểm, tư tưởng đạo đức là kết quả của sự phản ánh đời sống xã hội, đồng thời chúng còn là công cụ giúp con người nhận thức về xã hội. Chức năng nhận thức của đạo đức thường tác động theo hai xu hướngHướng thứ nhất Những quan điểm đạo đức tiến bộ, khoa học giúp con người nhận thức, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức trong đời sống ; giúp con người đánh giá đúng cái gì là thiện, cái gì là ác; cũng như tự đánh giá một cách đúng đắn những suy nghĩ, hành vi của bản thân mình. Trên cơ sở đó con người định hướng một cách đúng đắn hành vi của mình trong thực tiễn. Đồng thời thực tiễn đạo đức của nhân dân lao động trong quá trình xây dựng xã hội mới có tác dụng nâng cao trình độ nhận thức và năng lực đánh giá đạo đức ở mỗi người ngày càng chính xác và sâu sắc thứ hai Ngược lại, những quan điểm sai lầm về đạo đức không những làm cho hành động của con người dễ phạm sai lầm mà còn làm cho họ thất vọng, mất niềm tin vào cuộc sống và nhất định sẽ dẫn tới mức giảm sút ý chí cũng như năng lực nhận thức và hành Chức năng điều chỉnh hành vi– Trong xã hội, cần có các quy tắc, chuẩn mực nhằm kết hợp bằng cách này hay cách khác lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Cho nên điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội là một yêu cầu khách quan. Có nhiều quy tắc, chuẩn mực để đều chỉnh hành vi của con người của pháp luật, của tôn giáo, của phong tục tập quán và của đạo chỉnh hành vi bằng đạo đức có đặc điểm là tự điều chỉnh. Sức mạnh điều chỉnh hành vi bằng đạo đức là sức mạnh của lương tâm, sức mạnh của dư luận xã hội. Nhờ nắm được những quan điểm đạo đức tiến bộ, hiểu rõ vai trò của đạo đức, các chủ thể đạo đức luôn tự định hướng hoạt động của mình vào lợi ích chung, trên cơ sở đó mà họ cũng được thỏa mãn những nhu cầu đạo đức và những lợi ích chính đáng của mình. Để cho sự điều chỉnh có hiệu quả thì mỗi người không chỉ điều chỉnh từ trong tình cảm và nhận thức mà điều quan trọng hơn là biến những mong muốn tốt đẹp thành hoạt động thực tiễn. Trong đời sống, nhờ những mối quan hệ đạo đức được thiết lập mà con người hiểu rõ mình, hiểu sâu sắc thêm những giá trị đạo năng giáo dục, chức năng nhận thức và chức năng. điều chỉnh của đạo đức gắn bó mật thiết với nhau. ĐĐ hình thành ở con người năng lực nhân thức, đánh giá đúng đâu là thiện, đâu là ác. Trên cơ sở đó nâng cao năng lực tự giáo dục, biết được nghĩa vụ đạo đức của mình và tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì cái thiện. Do vậy giáo dục đạo đức không những có vai trò to lớn trong việc hình thành nhân cách mà còn góp phần ổn định và phát triển xã Cấu trúc của đạo đứcĐạo đức vận hành như là một hệ thống tương đối độc lập của xã hội. Cơ chế vận hành của nó được hình thành trên cơ sở liên hệ và tác động lẫn nhau của những yếu tố hợp thành đạo đức. Khi phân tích cấu trúc của đạo đức người ta xem xét nó dưới nhiều góc độ. Mỗi góc độ cho phép chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định. Chẳng hạn xét đạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì hệ thống đạo đức hợp thành từ hai yếu tố ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Nếu xét nó trong mối quan hệ giữa người và người thì người ta nhìn ra quan hệ đạo đức. Nếu xét theo quan điểm về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến cái đặc thù với cái đơn chất thì đạo đức được tạo nên từ đạo đức xã hội và đạo đức cá Ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức là sự thống nhất biện chứng giữa ý thức về hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực, hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đều có những ranh giới của hành vi và những quan hệ đạo đức đang tồn tại. Mặt khác, nó còn bao trùm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức con quan hệ giữa người và người về mặt đạo đức đều có những ranh giới của hành vi và giá trị đạo đức. Đó là ranh giới giữa cái thiện và cái ác, giữa chủ nghĩa cá nhân ích kỷ và tinh thần tập thể. Về mặt giá trị của hành vi đạo đức cũng có ranh giới lao động là hành vi thiện. Ăn bám bóc lột là vô nhân đạo. Ngay cả trong một hành vi thiện mức độ giá trị của nó không phải lúc nào cũng ngang nhau, mà có những thang bậc nhất định cao cả, tốt, được. Ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi và những qui tắc đạo đức xã hội đặt ra; nó giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện những nghĩa vụ đạo đức. Trong ý thức đạo đức còn bao hàm cảm xúc, tình cảm đạo đức của con người. Tóm lại, ý thức đạo đức về mặt cấu trúc gồm tri thức đạo tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm tin, ý thức đạo đức, là quá trình hiện thực hoá ý thức đạo đức trong cuộc thức và thực tiễn đạo đức luôn có quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau tạo nên bản chất đạo đức con người, của một giai cấp, của một chế độ xã hội và của một thời đại lịch sử. Ý thức đạo đức phải được thể hiện bằng hành động thì mới đem lại những lợi ích xã hội và ngăn ngừa cái ác. Nếu không có thực tiễn đạo đức thì ý thức đạo đức không đạt tới giá trị, sẽ rơi vào trừu tượng theo kiểu các giáo lý của tôn tiễn đạo đức được biểu hiện như sự tương trợ, giúp đỡ, cử chỉ nghĩa hiệp, hành động nghĩa vụ…Thực tiễn đạo đức là hệ thống các hành vi đạo đức của con người được nảy sinh trên cơ sở của ý thức đạo Quan hệ đạo hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo hệ đạo đức là một dạng quan hệ xã hội, là yếu tố tạo nên tín hiệu thực của bản chất xã hội của con quan hệ đạo đức không chỉ hình thành nên giữa các cá nhân, mà còn giữa cá nhân với xã hội, với những mặt riêng biệt của xã hội chẳng hạn với lao động, với văn hoá tinh thần trong chừng mực những mặt này liên quan đến các lợi ích chứa đựng trong các mối quan hệ hệ đạo đức được hình thành và phát triển như những qui luật tất yếu của xã hội, nó xác định những nhu cầu khách quan của xã hội, nó “tiềm ẩn” trong các quan hệ xã hệ đạo đức tồn tại một cách khách quan và luôn luôn biến đổi qua các thời đại lịch sử và chính nó là một trong nhữg cơ sở để hình thành nên ý thức đạo lại, ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức và quan hệ đạo đức là một yếu tố tạo nên cấu trúc đạo đức. Mỗi yếu tố không tồn tại độc lập, mà liên hệ tác động nhau, tạo nên sự vận động, phát triển và chuyển hóa bên trong của hệ thống đạo Đạo đức xã hội và đạo đức cá đức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội của cộng đồng người xác định, và là phương thức điều chỉnh hành vi của các cá nhân thuộc cộng đồng nhằm hình thành; phát triển hoàn thiện tồn tại xã hội đức xã hội được hình thành trên cơ sở cộng đồng về lợi ích và hoạt động của cá nhân thuộc cộng đồng. Nó tồn tại như là một hệ thống kinh nghiệm xã hội mang tính phổ biến của đời sống đạo đức của cộng đức cá nhân là đạo đức của những cá nhân riêng lẻ của cộng đồng, phản ảnh và khẳng định tồn tại xã hội của các cá nhân ấy như là thể hiện riêng lẻ của tồn tại xã hội của cộng đồng về lợi ích và hoạt động của các cá hoạt động thực tiễn và nhận thức của mình, các cá nhân thu nhận đạo đức xã hội như là hệ thống kinh nghiệm xã hội, những lí tưởng, chuẩn mực, tư tưởng, đánh giá đạo đức đã được hình thành nên trong lịch sử cộng đồng, biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm bản thân…Trước mắt cá nhân đạo đức xã hội tồn tại một cách khách quan mà trong cuộc sống của mình, cá nhân tất yếu phải nhận thức, tiếp thu và thực đức xã hội hay đạo đức cá nhân là sự thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến, cái đặc thù và cái đơn nhất. Đạo đức cá nhân là sự biểu hiện độc đáo của đạo đức xã hội, nhưng không bao hàm hết thảy mọi nội dung, đặc điểm của đạo đức xã hội. Mỗi cá nhân tiếp thu lĩnh hội đạo đức xã hội khác nhau và ảnh hưởng đến đạo đức xã hội cũng khác nhau. Đạo đức xã hội không thể là số cộng của đạo đức cá nhân mà nó tổng hợp những nhu cầu phổ biến được đúc kết thành những tinh hoa của đạo đức cá nhân. Nó trở thành cái chung của một giai cấp, một cộng đồng xã hội, một thời đại nhất định, nó được duy trì và cũng cố bằng những phong tục, tập quán, truyền thống, những di sản văn hóa vật chất và tinh thần, được biến đổi phát triển thông qua hoạt động sản xuất tinh thần và giao tiếp xã hệ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân là quan hệ giữa những chuẩn mực chung mang tính phát triển đặc thù trong từng xã hội với những phẩm chất hành vi những yêu cầu cụ thể hàng ngày, quan hệ giữa lý tưởng xã hội và hiện thực của cá nhân, giữa trí tuệ, tri thức xã hội với tình cảm, ý chí và năng lực hoạt động đạo đức cụ thể của cá nhân.
Đạo đức là một trong những nhánh chính của triết học và lý thuyết đạo đức là một phần của tất cả các triết học được quan niệm một cách rộng rãi. Danh sách các nhà lý thuyết đạo đức vĩ đại nhất bao gồm các tác giả kinh điển như Plato , Aristotle , Aquinas, Hobbes, Kant, Nietzsche cũng như những đóng góp gần đây của GE Moore, Sartre, B. Williams, E. Levinas. Mục đích của đạo đức đã được nhìn nhận theo những cách khác nhau theo một số người, đó là sự phân biệt đúng và sai; đối với những người khác, đạo đức tách biệt điều tốt về mặt đạo đức với điều xấu về mặt đạo đức; cách khác, đạo đức học có mục đích đưa ra các nguyên tắc bằng cách thực hiện một cuộc sống đáng được sống. Đạo đức siêu cấp nếu ngành đạo đức liên quan đến định nghĩa đúng và sai, hoặc tốt và xấu. Đạo đức là gì Đầu tiên, điều quan trọng là phải phân biệt đạo đức với những nỗ lực khác mà đôi khi nó có nguy cơ bị nhầm lẫn. Dưới đây là ba trong số họ. i Đạo đức không phải là điều thường được chấp nhận. Mỗi và tất cả các đồng nghiệp của bạn có thể coi bạo lực vô cớ là thú vui điều này không làm cho bạo lực vô cớ trở thành đạo đức trong nhóm của bạn. Nói cách khác, thực tế là một số hành động thường được thực hiện giữa một nhóm người không có nghĩa là hành động đó phải được thực hiện. Như nhà triết học David Hume đã lập luận nổi tiếng, 'không có nghĩa là' nên '.ii Đạo đức không phải là luật. Trong một số trường hợp, rõ ràng, luật thực hiện các nguyên tắc đạo đức ngược đãi vật nuôi là một yêu cầu đạo đức trước khi trở thành đối tượng của các quy định pháp luật cụ thể ở các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, không phải mọi thứ thuộc phạm vi của các quy tắc pháp lý đều đáng quan tâm về mặt đạo đức; ví dụ, có thể ít quan tâm về mặt đạo đức rằng nước máy phải được các cơ quan thích hợp kiểm tra nhiều lần trong ngày, mặc dù điều này tất nhiên có tầm quan trọng thực tế rất khác, không phải mọi thứ liên quan đến đạo đức đều có thể hoặc nên thúc đẩy việc đưa ra luật mọi người nên đối xử tốt với người khác, nhưng có vẻ kỳ lạ khi biến nguyên tắc này thành luật. iii Đạo đức không phải là tôn giáo. Mặc dù quan điểm tôn giáo nhất định phải chứa đựng một số nguyên tắc đạo đức, nhưng quan điểm sau có thể được ngoại suy tương đối dễ dàng từ bối cảnh tôn giáo của chúng và được đánh giá một cách độc lập. Đạo đức là gì? Đạo đức liên quan đến các tiêu chuẩn và nguyên tắc mà một cá nhân sống tuân theo. Ngoài ra, nó nghiên cứu các tiêu chuẩn của các nhóm hoặc xã hội. Bất kể sự phân biệt nào, có ba cách chính để suy nghĩ về các nghĩa vụ đạo đức. Dưới một trong những định nghĩa của nó, đạo đức đề cập đến các tiêu chuẩn của đúng và sai khi được đề cập đến các hành động, lợi ích, đức tính. Nói cách khác, đạo đức sau đó giúp xác định những gì chúng ta nên làm hoặc không nên làm. Ngoài ra, đạo đức học nhằm mục đích phân biệt những giá trị nào cần được ca ngợi và những giá trị nào nên không được khuyến khích. Cuối cùng, một số người xem đạo đức liên quan đến việc tìm kiếm một cuộc sống đáng được sống. Sống có đạo đức nghĩa là cố gắng hết sức để thực hiện công việc tìm kiếm. Câu hỏi chính Đạo đức dựa trên lý trí hay tình cảm? Các nguyên tắc đạo đức không cần hoặc không phải lúc nào cũng chỉ dựa trên những cân nhắc hợp lý, những ràng buộc đạo đức dường như chỉ áp dụng cho những sinh vật có khả năng phản ánh hành động của chính họ như các tác giả như Aristotle và Descartes đã chỉ ra. Chúng ta không thể yêu cầu chú chó Fido phải có đạo đức vì Fido không có khả năng phản ánh đạo đức về hành động của chính mình. Đạo đức, vì ai? Con người có những bổn phận đạo đức không chỉ đối với những con người khác mà còn bao gồm động vật ví dụ như vật nuôi, thiên nhiên ví dụ bảo tồn đa dạng sinh học hoặc hệ sinh thái, truyền thống và lễ hội ví dụ, ngày 4 tháng 7, thể chế ví dụ chính phủ, câu lạc bộ ví dụ như Yankees hoặc Lakers. Thế hệ tương lai và quá khứ?Ngoài ra, con người có nghĩa vụ đạo đức không chỉ đối với những người khác hiện đang sống mà còn đối với các thế hệ tương lai. Chúng ta có nhiệm vụ đem lại một tương lai cho người dân của ngày mai. Nhưng chúng ta cũng có thể chịu các nghĩa vụ đạo đức đối với các thế hệ đã qua, chẳng hạn như đánh giá cao những nỗ lực đã đạt được trong việc đạt được hòa bình trên toàn thế giới. Nguồn gốc của các nghĩa vụ đạo đức là gì?Kant tin rằng sức mạnh chuẩn mực của các nghĩa vụ đạo đức bắt nguồn từ khả năng suy luận của con người. Tuy nhiên, không phải tất cả các triết gia đều đồng ý với điều này. Ví dụ như Adam Smith hoặc David Hume sẽ phản bác rằng điều gì là đúng hay sai về mặt đạo đức đều được thiết lập trên cơ sở các tình cảm hoặc cảm xúc cơ bản của con người.
Adam Smith và những thách thức của thế kỷ 21. Một cái nhìn về tính thời sự trong tác phẩm của kinh tế gia và triết gia xứ Tô Cách Lan Scotland.Tượng Adam Smith tại Edinburgh, Scotland, Anh quốc. Ảnh Ulmus Media, ShutterstockAdam Smith, ra đời cách đây đã tròn 300 năm dường như là hôm nay, ngày 5 tháng 6, được nhiều người coi là người sáng lập ra kinh tế học hiện đại. Nó thường gắn liền với ý tưởng rằng phồn vinh cộng đồng được phát sinh từ việc theo đuổi lợi ích cá nhân trong môi trường kinh tế thị trường tự do. Tuy nhiên, những phản ánh của Smith về những vấn đề này phức tạp hơn nhiều so với những gì người ta thường ghi nhận về ông. Ngoài ra, Smith không chỉ là một nhà kinh tế quốc gia, mà còn là một triết gia đạo đức. Xét cả hai khía cạnh đó, suy nghĩ của ông rất phù hợp khi khảo sát những thách thức toàn cầu của thế kỷ Bàn tay vô hìnhTrong tác phẩm chính của mình, “Phồn vinh của các quốc gia” xuất bản lần đầu năm 1776, Smith đã giải quyết câu hỏi làm thế nào xã hội có thể phối hợp các hoạt động độc lập của một số lượng lớn các tác nhân kinh tế – nhà sản xuất, nhà vận chuyển, thương nhân, người tiêu dùng – những người thông thường không biết lẫn nhau và họ nằm rải rác khắp nơi trên thế giới. Lập luận của ông là, sự phối hợp giữa tất cả các tác nhân này có thể phát sinh một cách tự nhiên, không cần bất kỳ nỗ lực có ý thức nào của bất kỳ người nào hoặc tổ chức nào để tạo ra hoặc duy trì nó – và cũng không cần đến lòng nhân từ của các tác Smith đã chỉ ra, thị trường hoạt động giống như một “bàn tay vô hình” thúc đẩy lợi ích của xã hội mà những người tham gia thị trường không cần phải theo đuổi bất cứ điều gì khác ngoài lợi ích của chính họ. Những phát biểu có liên quan sau đây nằm trong số những đoạn được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử các ý tưởng kinh tế “Chúng ta không mong đợi bữa ăn ngon của mình từ thiện chí của người bán thịt, người nấu bia hay người làm bánh mì, mà từ việc họ theo đuổi lợi ích của chính họ”. Người doanh nhân “trong trường hợp này, cũng như nhiều trường hợp khác, được hướng dẫn bởi bàn tay vô hình để đạt đến những mục đích vốn dĩ không phải là ý định ban đầu của anh ta. Bằng cách theo đuổi lợi ích riêng tư, anh ta đã vô hình trung hỗ trợ những chuyện tốt đẹp cho cộng đồng, hơn là nếu anh ta đã có ý định đó từ ban đầu”.Ý tưởng cơ bản của “định lý bàn tay vô hình” này thật là đơn giản một mặt là người bán thịt, người sản xuất bia hoặc thợ làm bánh và mặt khác là khách hàng của họ sẽ chỉ tham gia vào một giao dịch tự nguyện nếu đó là lợi ích của cả hai bên, và giao dịch này sẽ được tiếp tục kéo dài cho đến khi không thể cải thiện lẫn nhau nữa. Theo cách này, đạt được mức tối ưu về kinh tế trong đó phúc lợi của một bên chỉ có thể tăng lên bằng cách làm giảm phúc lợi của bên kia, do đó phúc lợi tổng thể không thể tăng thêm được nhiên, như kinh tế học hiện đại đã chỉ ra, có một số điều kiện tiên quyết để đạt được mức phúc lợi công cộng tối ưu này. Thứ nhất, giao dịch không được là hoạt động kinh doanh gây thiệt hại cho bên thứ ba, chẳng hạn như hoạt động của những người thợ làm bánh góp phần tạo ra khói bụi khét tiếng ở London và do đó gây hại cho người khác tác động bên ngoài. Thứ hai, hàng hóa không được có bất kỳ đặc tính nào mà khách hàng không biết ví dụ các thành phần có hại trong bánh nướng, để có thể xảy ra các giao dịch gây hại cho lợi ích chung, điều này sẽ không xảy ra nếu khách hàng có kiến thức phù hợp bất cân xứng về thông tin. Thứ ba, một số người làm bánh, nấu bia hoặc bán thịt phải cạnh tranh với nhau để không ai có thể lừa dối khách hàng sức mạnh thị trường. Thứ tư, có những hàng hóa mang lại lợi ích cho một số hoặc tất cả các thành viên trong xã hội và không được cung cấp bởi các chủ thể tư nhân sản phẩm công cộng.Smith đã nhận thức được một số hạn chế này. Ông ấy hiểu rằng khi các nhà cung cấp liên kết với nhau hoặc thông đồng để phá hoại cạnh tranh, điều đó có hại cho lợi ích chung. Đặc biệt, ông phản đối các công ty độc quyền được bảo vệ bởi chính phủ, chẳng hạn như Công ty Đông Ấn Anh. Mặt khác, ông nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công cộng như tư pháp, giáo dục và trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng như cầu, đường, kênh rạch. Do đó, thật sai lầm khi tuyên bố Smith là nhân chứng chính cho khẩu hiệu tự do thô tục “tư nhân trước nhà nước”.2. Cảm xúc luân lýBất chấp tầm quan trọng của tư lợi trong các vấn đề kinh tế và xã hội, Smith không tin rằng mọi người chỉ được hướng dẫn bởi tư lợi. Mười bảy năm trước tác phẩm “Phồn vinh của các quốc gia”, ông đã xuất bản một cuốn sách về hành vi đạo đức có tựa đề “Lý thuyết về cảm xúc luân lý” năm 1759. Trong đó, ông lập luận rằng mọi người được hướng dẫn một phần bởi cảm xúc bên trong về hành vi “đúng” và “sai” dựa trên sự cảm thông hơn là tính toán hợp xúc luân lý dẫn đến nghĩa vụ đối với người khác, xảy ra ở các mức độ khác nhau. Nhiệm vụ mạnh mẽ nhất đến từ sự thân mật cá nhân. Chúng áp dụng mạnh mẽ và vô điều kiện nhất cho con cái và người thân của một người, nhưng cũng mở rộng cho tất cả những người chúng ta biết. Nghĩa vụ yếu nhất là đối với những người ở xa có nhu trình của Smith về hành vi đạo đức đáng chú ý ở một số khía cạnh. Đầu tiên, ý tưởng của Smith về hành vi nào là đúng và hành vi nào là sai không liên quan đến kết quả hoặc hậu quả của các hành vi. Điều này khác với quan niệm của người theo chủ nghĩa hệ quả, theo đó tiêu chuẩn của hành vi đạo đức dựa trên mức độ kết quả, chẳng hạn như tiêu chuẩn “hạnh phúc lớn nhất của số lượng lớn nhất” do những người theo chủ nghĩa vị lợi truyền bá. Thứ hai, Smith áp dụng cách tiếp cận theo chủ nghĩa trực giác, nghĩa là ông xem các nghĩa vụ đạo đức dựa trên cảm xúc bên trong, thay vì đặt cơ sở hoặc “xuất phát” chúng thông qua lập luận tiên đề, như nhiều trường hợp trong triết học đạo đức của ông cũng như đương thời. Cách tiếp cận này rất giống với cách tiếp cận trực giác đối với đạo đức trong tâm lý học đạo đức hiện đại, đặc biệt là lý thuyết nền tảng đạo đức. Thứ ba, ý tưởng của Smith về cường độ của nghĩa vụ đạo đức như là một chức năng của sự gần gũi tinh thần hoặc địa lý rất phù hợp với sự phân biệt của tâm lý học đạo đức hiện đại giữa các giá trị đạo đức hướng đến nhóm địa phương và hướng đến cá nhân phổ quát Trong khi cái trước chỉ áp dụng đối với các thành viên trong nhóm của chính mình, điều sau áp dụng một cách phổ quát cho tất cả các cá nhân, trong đó giá trị cơ bản mang tính quyết định của địa phương là lòng trung thành, vốn dĩ đã tiềm ẩn tính căng thẳng với các giá trị phổ quát về sự công bằng và quan tâm lẫn tưởng của Smith về hành vi kinh tế và ý niệm đạo đức thường được coi là khó dung hòa. Tuy nhiên, với tư cách là những đóng góp để hiểu những thách thức sâu sắc của thời đại chúng ta, chúng tỏ ra là bổ sung cho Adam Smith và những thách thức của thế kỷ 21Những thách thức đáng kể của thế kỷ 21 được nêu tên trong các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc, bao gồm nạn đói, nghèo, bất bình đẳng, biến đổi khí hậu và suy giảm đa dạng sinh học. Sự chẩn đoán về những thách thức toàn cầu này phù hợp với quan điểm của hàng nghìn sinh viên kinh tế và động cơ lựa chọn chuyên ngành của họ. Từ năm 2016 đến 2018, hơn sinh viên tại 25 trường đại học ở 12 quốc gia đã trả lời câu hỏi “Vấn đề cấp bách nhất đối với các nhà kinh tế học là gì” ngay trong ngày đầu tiên theo học? Trong khi “thất nghiệp” và “lạm phát” thường xuyên được nhắc đến, thì “bất bình đẳng” lại đứng đầu, tiếp theo là “môi trường” và “tính bền vững”. Trong một cuộc khảo sát sau đó vào năm 2019, “biến đổi khí hậu” gần như ngang bằng với “bất bình đẳng”.Cũng giống như hệ thống tư pháp và giáo dục mà Adam Smith đã đề cập, tính bền vững, hệ thống khí hậu hoạt động tốt và đa dạng sinh học là hàng hóa công cộng, tức là chúng tạo ra lợi ích cho tất cả các bên liên quan mà lợi ích của người này không làm mất lợi ích của người khác, hay nói cách khác, không có chuyện tranh giành lợi ích ở đây. Như đã mô tả, theo quan điểm của Smith, việc cung cấp hàng hóa công cộng là một nhiệm vụ của nhà nước. Một nhà nước có thể hoàn thành nhiệm vụ này trong trường hợp tư pháp và giáo dục, bởi vì việc sử dụng chúng về cơ bản được giới hạn trong vòng các công dân tương ứng và nhà nước do đó có thể tài trợ cho những hàng hóa này bằng nguồn thu từ dù một mặt, tính không cạnh tranh là phổ biến đối với hàng hóa của pháp luật và giáo dục, và mặt khác là tính bền vững, bảo vệ khí hậu và đa dạng sinh học đều là của chung, nhưng cái sau khác với cái trước ở chỗ không ai có thể bị loại trừ khỏi việc sử dụng chúng. Cho nên, những nỗ lực thúc đẩy tính bền vững, bảo vệ khí hậu và đa dạng sinh học luôn làm phát sinh hành vi ăn bám làm hỏng những nỗ lực đó tư lợi, trong trường hợp làm bánh mì và bia sẽ dẫn đến sự cân bằng cung cầu, nhưng lại gây ra tình trạng nhu cầu không được cung ứng đầy chống lại hành vi ăn bám, hành động đạo đức là cần thiết trong trường hợp việc sử dụng hàng hóa công cộng không thể loại trừ một ai. Thật vậy, nhân học có văn hóa mang tính tiến hóa quan niệm rằng sự xuất hiện của các cảm xúc luân lý và các nghĩa vụ đạo đức được nhận thức sẽ góp phần vào việc cung cấp hàng hóa công cộng một cách tự nguyện. Tuy nhiên, theo quan điểm của Smith cũng như theo tâm lý học về các giá trị đạo đức cơ bản, nghĩa vụ đạo đức cho thấy cường độ giảm dần theo khoảng cách về tinh thần, không gian hoặc thời khi mức độ cần thiết về việc bảo vệ khí hậu và các loài – như là sự đối trọng với tư lợi – cần một tiền đề đạo đức phổ quát vốn dĩ liên quan đến hạnh phúc con người trong hiện tại cũng như tương lai, ở gần cũng như ở xa, điều đó làm rõ ràng hơn rằng, viễn kiến của Adam Smith về cảm xúc luân lý, và từ đó là về cách hành xử, dường như gần với thực tế hơn là chúng ta mong giả Heinz Welsch – Frankfurter Rundschau 1/6/ dịch Tôn Thất ThôngNguyên bản trên Frankfurter Rundschau “300 Jahre Adam Smith Moral und Eigennutz”Đăng lại từ bài viết cùng tên trên Diễn Đàn Khai Phóng giả Heinz Welsch là giáo sư kinh tế đã nghỉ hưu tại Đại học Oldenburg. Ông đã xuất bản nhiều tài liệu nghiên cứu trong các lĩnh vực kinh tế môi trường và khí hậu cũng như kinh tế học hành vi và nghiên cứu hạnh thêm Nền kinh tế thị trường tự do và sai lầm của Hoa Kỳ hiện đạiTham khảo thêmAdam Smith Theorie der Ethischen Gefühle Lý thuyết về cảm xúc luân lý. Meiner-Verlag 2021. 668 trang, 28,90 Welsch “Glück, Natur und Moral in der Wirtschaftswissenschaft – Moderne Ökonomik und die Herausforderungen des 21. Jahrhunderts” Hạnh phúc, bản chất và đạo đức trong kinh tế học – Kinh tế học hiện đại và những thách thức của thế kỷ 21. Springer-Gabler 2023. 63 trang, 14,99 bài liên quanWalther Ziegler Adam Smith trong vòng 60 phút. Tôn Thất Thông chuyển ngữ từ tiếng Đức sang tiếng Việt. Nhà xuất Bản Hồng Đức, Văn Lang phát Thất Thông Thần Kỳ Kinh Tế Tây Đức, trang 446-456 Về Adam Smith. Nhà xuất bản Tri Thức. Phương Nam phát Thất Thông Adam Smith khởi động cuộc cách mạng kinh tế. Diễn Đàn Khai PhóngTôn Thất Thông Adam Smith đặt nền móng cho kinh tế học cổ điển. Diễn Đàn Khai PhóngMời xem video
Joseph Tân Nguyễn, ofm Hạnh phúc con người không chỉ là thỏa mãn các nhu cầu bản năng nhưng còn hệ tại vào các giá trị đạo đức mà chúng ta tin sẽ mang lại một cuộc sống nhân bản cho chúng ta. Nhưng các giá trị đạo đức có thật không, hay chỉ là những thói quen mà truyền thống và xã hội áp đặt lên cá nhân, tạo nên mặc cảm tội lỗi nếu ta không tuân theo? Làm sao biết giá trị đạo đức nào sẽ mang lại hạnh phúc cho đời mình? Bản chất của chúng là tương đối hay tuyệt đối? Khách quan hay chủ quan? Đạo đức đến từ tôn giáo hay văn hóa? Bất biến hay thay đổi theo luật tiến hóa? Nếu con người bị điều kiện bởi các yếu tố tâm lý và thể lý thì thật sự có tự do chọn lựa các giá trị đó không? Cuối cùng, tại sao chúng ta nên sống đạo đức? Triết học đạo đức nghiên cứu về các chủ đề rộng lớn và quan trọng này. PHẠM VI TRUY VẤN CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC Lịch sử triết học đạo đức đã phát triển theo hai chiều hướng sau đây. Chiều hướng thứ nhất được gọi là“đạo đức quy chuẩn” prescriptive ethics. Lãnh vực này thống trị triết đạo đức suốt hơn hai kỷ nguyên qua - khởi đầu bằng những truy vấn về mối tương quan giữa tri thức và đức hạnh của Socrates 469-399 BC. Chiều hướng này nghiên cứu các giá trị, nguyên tắc và tiêu chuẩn luân lý, hầu để giúp chọn lựa các hành vi sao cho phù hợp với mục tiêu mang lại “hạnh phúc” cho con người. Đạo đức học quy chuẩn trả lời câu hỏi, “một cá nhân nên hành xử như thế nào” bằng cách đưa ra các tiêu chuẩn đạo đức như vị kỷ, vị lợi, luật tự nhiên, bổn phận, nhân đức, Mỗi tiêu chuẩn đạo đức sẽ bao gồm các quy tắc đặc thù để bảo đảm các giá trị nền tảng của chúng được thể hiện cách toàn vẹn. Chiều hướng thứ hai mang nặng tính lý thuyết, thường được gọi là đạo đức học siêu hình meta-ethics. Đây là một hiện tượng mới - tuy đã có nguồn gốc từ triết Cổ Hy Lạp - được khai thác chỉ trong thế kỷ vừa qua. Đạo đức học siêu hình không đề nghị chúng ta nên hành xử như thế nào, nhưng tra cứu các hình thức lý luận trong suy tư đạo đức. Đạo đức học siêu hình khám phá về bản chất và cấu trúc của ngôn ngữ đạo đức, mối tương quan giữa các khẳng định trong một hệ thống luân lý, các nền tảng của tri thức đạo đức, và những điền kiện để lý luận đạo đức được hợp lý. Tuy nhiên, triết học không phải là môn học duy nhất xem xét cách cư xử và tính cách đúng đắn của con người. Thần học cũng bàn về các vấn đề cơ bản này. Trong khi thần học luân lý dựa trên viễn tượng đức tin tôn giáo vốn đã được cộng đoàn tín hữu chấp nhận thì triết học đạo đức phải lý luận hoàn toàn dựa trên lý trí và kinh nghiệm. Đối với các tín hữu, giáo lý không thể bị tranh cãi ngoại trừ cách giải thích về chúng, thì trong triết học đạo đức mọi câu hỏi về đạo đức đều có thể được đem ra bàn luận - ngay cả câu hỏi liệu có một đạo đức học đúng hay không? Tuy nhiên, có nhiền học giả vừa là triết gia vừa là thần học gia Augustine, Tôma, nhận thấy có sự hài hòa giữa thần học luân lý và triết học đạo đức, mặc dù các điểm xuất phát của hai môn học này thì cơ bản khác nhau. Hạn từ “ethics” thường được dùng trong phạm vi triết học đạo đức, còn “morality” thì trong khuôn khổ của thần học luân lý. Từ “ethics” bắt nguồn từ tiếng Hy lạp “ethos”, có nghĩa là “phong tục” số ít và “tính cách” số nhiều. Từ “morality” được dịch từ tiếng La tinh “mos” số nhiều mores cũng mang ý nghĩa tương đương như trong tiếng Hy Lạp. Từ các nghĩa gốc này chúng ta thấy đạo đức học liên quan đến cả về “hành vi” phong tục, thói quen lẫn sự hình thành nên “tính cách” loại người, cá tính mà chúng ta muốn trở thành. Mối tương quan này rất quan trọng trong sự phát triển đạo đức học. Vì lẽ, tính cách character của chúng ta được hình thành chủ yếu từ những thói quen hành động actions của mình. Mặt khác, thói quen thực hành các hành vi tốt sẽ giúp chúng ta tối đa hóa khả năng chọn lựa điều tốt nhất trong mọi hoàn cảnh, và như thế sẽ tạo nên một “tính cách thứ nhì” cho mình virtues. Các nghĩa gốc này cũng giúp chúng ta hiểu tại sao chúng ta gọi đạo đức học là môn học về cách phải sống đời mình như thế nào, phải cư xử và sở hữu những tư cách đúng đắn nào để trở nên một con người có nhân bản. Triết học Tây phương, từ Socrates cho đến Wittgenstein, đều nhận thấy truy vấn đạo đức học là một nguồn phát sinh chính yếu cho các vấn nạn lớn trong triết học. Hầu như trong mọi nền văn hóa tồn tại trong lịch sử nhân loại đều có những nỗ lực tìm kiếm những gì mang lại hạnh phúc cho con ngưởi. Ai cũng muốn biết thế nào là cuộc sống tốt. Đâu là những tư cách đáng tôn trọng nơi con người? Có thể đòi hỏi trách nhiệm hay bổn phận gì từ các cá nhân và tập thể có tương quan huyết thống, xã hội, hay quốc gia? Hiểu biết về đạo đức có thật sự đưa đến hành vi đạo đức hay tạo nên một tư cách nhân bản không? Triết học Hy Lạp cổ điển đã nâng các câu hỏi này lên một mức độ phản tỉnh sâu sắc hơn. Họ hỏi Liệu lý trí con người có khả năng trả lời các câu hỏi trên đây một cách khách quan không? Nếu tri thức đạo đức có thật thì chúng sẽ đến từ đâu? Có thể có các giá trị đạo đức phổ quát, độc lập khỏi mọi giới hạn văn hóa, tôn giáo, tập quán hay luật lệ xã hội không? Một khi chúng ta suy tư phản tỉnh như thế thì chúng ta đang bước vào ngưỡng cửa của triết học đạo đức. Điều đáng ngạc nhiên là mức độ cấp bách và thiết yếu mà triết học Hy Lạp ngay từ ban đầu đã gán cho các câu hỏi này. Họ gắn liền truy vấn đạo đức với sự tồn tại và thịnh vượng của nhà nước, trật tự trong xã hội, và hạnh phúc con người. Nếu chúng ta muốn biết thế nào là một bài hát hay hoặc một bác sĩ giỏi thì chúng ta cần tìm các “quy chuẩn” trong mỗi ngành để xác định câu trả lời. Nhưng nếu chúng ta tiếp tục hỏi liệu các “quy chuẩn” này đóng góp thế nào cho nỗ lực xây dựng hạnh phúc và tìm kiếm ý nghĩa chân thực cho cuộc sống thì chúng ta đang truy vấn đạo đức. Phạm vi của truy vấn đạo đức sẽ bao gồm cả về trách nhiệm, bổn phận, tư cách và hành vi nhân bản. Đạo đức học lưu tâm đặc biệt về hậu quả tổng thể của hành vi hay chọn lựa trên nỗ lực tìm sự thiện hảo cho con người. YẾU TỐ CẢM XÚC TRONG PHÁN ĐOÁN ĐẠO ĐỨC Đạo đức học đóng vai “điều phối” như trên là vì đạo đức học ưu tư đặt biệt về cách chúng ta phán đoán các hành vi nhân bản trong tương quan với nỗ lực xây dựng hạnh phúc con người. Trong khi lôgic phán đoán về tính hợp lý của tiến trình suy tư - hành vi có thống nhất với niềm tin hay không - thì đạo đức học nhắm vào mối tương quan giữa động lực và hậu quả của một hành vi và ảnh hưởng tổng thể của nó trên tư cách làm người trong xã hội. Nói như thế có nghĩa là đạo đức học vẫn còn mang nhiều yếu tố cảm xúc đến từ phản ứng của tha nhân về cách sống và ứng xử của chúng ta. Từ những phản ứng này, chúng ta có thể biện phân những động lực vốn sẽ tạo nền tảng cho cách chúng ta đánh giá một cá nhân. Ba yếu tố cảm xúc căn bản mà chúng ta cần xét ở đây là trách móc, ca ngợi và ước muốn. Khi quan sát các yếu tố cảm xúc này chúng ta sẽ khám phá ra các manh mối cho tính phổ quát của phán đoán đạo đức. Trước tiên, “trách móc” là một thái độ thông thường nhất trong phán đoán đạo đức. Khi ta khiển trách một cá nhân vì hành vi bất xứng của họ, ta không chỉ cho rằng hành vi của người đó không đúng mà còn cả động lực của họ là không tốt. Khi ta không chấp nhận hành vi của một chủ thể trưởng thành tức là ta đang đánh giá về tư cách của người đó, và cho rằng người đó “có lỗi” và phải chịu “trách nhiệm” về hậu quả của hành vi của họ. Cho dù cảm xúc sân hận có thể không hiện diện, nhưng trách móc đã là một hình thức trừng phạt rồi, ít nhất qua thái độ và sự đánh giá của mình về cá nhân đó. Mức độ “trừng phạt” thì tùy theo trách nhiệm và tính “có lỗi” của chủ thể. Một hệ luận có thể rút tỉa được là khi chúng ta cho rằng chủ thể phải chịu trách nhiệm phần nào cho hậu quả của hành vi của mình, thì việc chúng ta khẳng định họ đáng bị khiển trách không phải là hoàn toàn vô lý. Vì lẽ, bên dưới sự trách móc có một trực giác cho rằng mọi người có bổn phận theo đuổi một mức độ trưởng thành luân lý nào đó. Tương tự như trên, “ca ngợi” hay khen thưởng cũng để lộ một trực giác về tư cách và sự trưởng thành luân lý mà ta ước muốn mọi người nên có. Có những giá trị mà mọi người ao ước được sở hữu như “cá tính thứ nhì” như can đảm, nhân từ, cao thượng, sáng tạo, kiên nhẫn, tiết độ, khôn ngoan, tháo vác, lanh lẹ, tế nhị, khỏe mạnh, sung túc, sắc đẹp, Chúng ta có thể tranh luận về mức độ thiết yếu của mỗi giá trị trên đây, tuy nhiên, mẫu số chung là chúng có khả năng đóng góp vào hạnh phúc và sự viên mãn của đời sống con người. Như vậy, khi chúng ta cho rằng một số hành vi hay tư cách đáng khen ngợi, tức là ta đang ý thức về những giá trị quan trọng cho hạnh phúc của cuộc sống. John Stuart Mill - cha đẻ của trường phái thực dụng - không sai khi cho rằng “hạnh phúc là sự ước muốn căn bản nhất của con người trong cả lý thuyết lẫn thực hành”. Cuối cùng, cả trách móc và ca ngợi đều tiềm tàng một ước muốn rằng con người là một chủ thể tự do, có trách nhiệm cho hành vi nhân bản và sự chọn lựa của mình. Chúng ta “ao ước” rằng mọi người chung quanh mình sống trung thực, nhân đạo, tôn trọng sự công bằng và tự do của tha nhân. Người ta không lên án một đứa trẻ hay một bệnh nhân tâm thần, nhưng chỉ một cá nhân trưởng thành vì một hành vi vô luân của họ. Chúng ta ước muốn mọi chủ thể trưởng thành thật sự dùng tự do chọn lựa khi hành động, cho dù cá nhân ấy có thể thiếu khả năng kiềm chế các cám dỗ hoặc bị áp lực tâm lý và xã hội. Tuy nhiên, tự do sẽ là điều kiện tiên quyết và tất yếu cho mọi phán đoán đạo đức, vì thiếu tự do thì phán đoán đạo đức trở thành vô nghĩa. Như thế, qua trách móc, ca ngợi và ao ước chúng ta có thể giả định là con người là một chủ thể có tự do chọn lựa và phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình. Mục tiêu cơ bản của đạo đức học là cung cấp các giá trị khách quan liên quan đến viễn tượng đạo đức của mình. Nhưng khi truy vấn về lý luận đạo đức thì chúng ta phải trả lời cho câu hỏi cuối cùng, đó là, “Tại sao tôi phải sống đạo đức?” Giả sử một hôm trên đường phố vắng, tôi nhặt được một cái ví với một số tiền lớn cùng với tên và địa chỉ của người mất cái ví ấy. Trong vài giây phút, tôi có thể phân vân mình có nên dùng số tiền “may mắn” này cho mình. May mắn đối với tôi nhưng lại kém may mắn cho người đánh mất ví tiền. Nếu tôi không trả ví tiền lại cho khổ chủ thì hành vi của tôi cũng không ai hay biết. Như vậy, có lý do chính đáng nào để tôi chọn sự chính trực thay vì tìm lợi ích cho mình không? Suy tư như thế này đưa ta đến việc nhận ra mục đích cuối cùng của đạo đức là sự thiện. Sống đạo đức là sống theo điều thiện, là hành động đúng không vì tư lợi. Nhưng sự thiện là gì? Sự thiện đối với ai? Điều thiện là tốt vì tự bản chất của nó, hay là vì nó sẽ mang lại lợi ích cho ta? Cho dù ta có thể tìm được một định nghĩa khách quan và phổ quát cho sự thiện đi nữa thì trong thực tế, một người làm một việc thiện nhưng với mục đích xấu có phải là người tốt không? Hoặc người khác có ý định tốt nhưng lại làm điều xấu do họ không biết, liệu người ấy có phải là người xấu chưa? Mặc khác, nếu một người làm điều xấu nhưng mang lại hậu quả tốt, thì ta nên phán đoán như thế nào? Lấy ví dụ, một tên trộm khi đập cửa kính lén vào một nhà, thấy một bà cụ nằm bất động dưới đất, bị ngộ độc vì khí carbon dioxide tràn ngập trong nhà bị đóng kín vì đang dùng lò sưởi mùa đông. Bỗng nhiên bà cụ bắt đầu cử động, và hệ thống báo động cũng âm thầm liên hệ với cảnh sát, và tên trộm cuối cùng bị bắt. Điều mà tên trộm không biết là hành vi đập cửa kính vô tình làm cho khí độc thoát ra và khí sạch tràn vào nhà và cứu sống được bà cụ. Như vậy, hành vi xâm phạm gia cư bất hợp pháp này là tốt hay xấu? Đáng khen hay đáng trách? Đúng hay sai? Như thế, định nghĩa khách quan của sự thiện tự nó sẽ không thể trả lời câu hỏi “Tại sao ta phải sống đạo đức”. Nhiệm vụ của đạo đức học là giúp chúng ta đạt được mục tiêu đã được giả định trong lý tưởng hạnh phúc của mình khi phân biệt giữa điều thiện và ác. Nhưng đạo đức học không thể cung cấp câu trả lời khách quan cho câu hỏi “Tại sao ta phải chọn điều thiện?” Đây là câu hỏi nằm ngoài phạm vi của triết học và là giới hạn của lý luận đạo đức. Nó thuộc về lãnh vực thực tế và chỉ có ý nghĩa một khi chúng ta chấp nhận việc theo đuổi sự thiện gắn liền với nỗ lực tìm hạnh phúc cho đời mình. SỰ THIỆN VÀ BẢN TÍNH CON NGƯỜI Đạo đức học là môn nghiên cứu về cách chúng ta phải sống hay chọn lựa sự thiện hảo như thế nào để đạt đến hạnh phúc. Nhiều người cho rằng sự thiện cao cả nhất của con người là thể hiện tiềm năng và bản tính của mình một cách trọn vẹn. Nhưng “bản tính con người” là gì? Và làm thế nào chúng ta thể hiện được bản tính ấy? Nếu cho rằng con người là “con vật có lý trí” thì đạo đức là tận dụng lý trí để mang lại hạnh phúc cho mình. Hoặc, nếu bản tính con người là tìm kiếm sự sung mãn cho tất cả mọi người, thì đạo đức chính là đạt đến các điều vị lợi ấy. Như thế, việc bảo vệ và phát huy các “khuynh hướng tự nhiên” của bản tính con người là điều thiện hảo và đáng theo đuổi. Đây là cơ sở cho sự phát triển của đạo đức học “luật tự nhiên”. Trong vở kịch “Antigone” của Sophocles Wyckoff, 1959, người hùng Antigone nại đến qui luật cao cả này để biện minh cho hành vi chôn xác người anh ruột, cho dù có lệnh vua cấm vì người anh đã nổi loạn chống lại chính quyền thành Thebes. Hãy xem đoạn đối thoại sau đây -Vua Creon Hãy nói cho ta biết, nhà ngươi có biết lệnh vua cấm làm việc này không? -Antigone Lẽ dĩ nhiên tôi biết. Lệnh vua rất rõ ràng. -Vua Creon Sao nhà ngươi vẫn coi thường lệnh vua? - Antigone Đối với tôi, lệnh này không đến từ Thần Zeus và cũng không do Thần Công lý hay do các vị Thần dưới trướng Zeus ban ra. Hơn nữa, tôi không nghĩ rằng luật của nhà vua, trong thân phận là con người, lại có thẩm quyền cao hơn luật của Thần Minh vốn đã có tự muôn đời. Giá trị của luật các Thần Minh đã có từ hôm qua, tiếp tục hôm nay và mãi mãi và không ai thật sự biết chúng đã bắt đầu từ thủa nào... Phản ứng và lý luận của Antigone trên đây cho thấy ngay từ thủa ban đầu của triết học, con người đã nhận ra lương tâm và lý trí là nền tảng tất yếu cho phán đoán đạo đức, căn bản hơn cả mọi qui luật tôn giáo hay luật pháp nhà nước. Trong lương tâm con người đã được khắc ghi một quy luật luân lý có từ đời đời và con người biết nó qua lý trí. Con người là một chủ thể luân lý và trên nền tảng những gì “tự nhiên đối với con người”, triết Hy Lạp Cổ đại đã khai triển một số mô hình đạo đức học, rất quan trọng cho sự phát triển của triết học Tây phương sau này. Tuy nhiên, không phải mọi triết gia đều đồng ý rằng đạo đức học cần phải được xây dựng trên bản tính con người. Có thể họ cho rằng bản tính con người cơ bản là ích kỷ hoặc chưa hoàn toàn và đạo đức là khắc phục khuynh hướng vị kỷ tự nhiên đó. Có triết gia cho rằng giá trị đạo đức cơ bản là thể hiện bản tính độc đáo riêng qua các chọn lựa tự do của chủ thể. Có giả thuyết cho rằng người khác phái không thể có chung bản tính và như thế phụ nữ cần thể hiện bản tính mình cách độc lập và sáng tạo, không phải theo mô hình của phái nam. Vì thế, khó mà đạt đến một quan điểm chung hay sự thống nhất về “bản tính con người”. Trong thời Cận đại, đạo đức học đã chuyển mình từ một môn học về hạnh kiểm và tính cách đúng đắn của bản tính con người sang một khoa nghiên cứu về các hình thức hay nguyên tắc cần thiết cho việc đánh giá hành vi đạo đức. Nhiều phạm trù đạo đức học mới đã được đưa ra như hậu quả consequentialism, ý định intentionality, hình thức formal, bổn phận deontology, và nhân cách character. Trước tiên, thuyết “hậu quả” là khuynh hướng đánh giá một hành động hay tính cách tùy theo khả năng chúng thăng tiến hay gây tổn hại đến hạnh phúc con người. Nhưng “ý định” cũng là yếu tố không kém quan trọng, vì một người có thể làm việc từ thiện mang lại nhiều kết quả tốt cho người nghèo, nhưng với tham vọng chính trị hay ý đồ bất chính thì hành vi của họ chưa chắc là cao thượng. Nếu cả hai khuynh hướng ở trên đều nhắm vào thực chất của hành vi, thì khuynh hướng thứ ba nhắm vào “hình thức luân lý phổ quát” đúng một hành vi. Một hành động chỉ là đúng nếu nó là hành động mà ta có thể ước ao trung thực rằng mọi người trong cùng hoàn cảnh sẽ thực hiện, và ta có bổn phận phải tuân thủ hình thức luân lý phổ quát của nó. Ví dụ, theo Kant, hành vi gian lận khi làm bài thi là sai vì “hình thức luân lý” của hành vi đó không thể phổ quát hóa được; nó sẽ bào mòn ý định của người muốn gian lận. Cuối cùng, quan điểm “nhân cách” cho rằng hành động chỉ là cách diễn tả của một cá tính đã được hình thành nơi tác nhân. Do đó, đạo đức học nên nhắm vào việc rèn luyện nhân cách thay vì cân nhắc về các khía cạnh thực chất của hành vi. Ngoài ra, đạo đức học còn có các thử thách khác. Nếu luân lý morality xuất phát từ những thói quen mores của con người sống trong xã hội thì phán đoán đạo đức lại không thể hoàn toàn tuyệt đối hay hoàn toàn tương đối. Từ phái Ngụy biện cho đến Nietzsche đã cho thấy giá trị đạo đức luôn luôn bao hàm các yếu tố chủ quan. Do đó, có cách nào bênh vực cho tính khách quan của phán đoán đạo đức không? Mặt khác, mọi suy tư và hành vi con người đều có nguồn gốc và bị chi phối bởi các yếu tố thể lý, tâm lý hay bối cảnh xã hội. Như vậy, hành vi con người bị tiền định và không hoàn toàn tự do thì làm sao ta có thể có phán đoán đạo đức một cách trung thực được? Hơn nữa, sự hiểu biết và tri thức đạo đức của con người thì thay đổi và tiến hóa theo thời gian, như vậy các phán đoán đạo đức của truyền thống còn đúng không? Tiến hóa có loại bỏ các giá trị đạo đức cổ điển không? ĐẠO ĐỨC HỌC VÀ CÁC KHOA HỌC KHÁC Các nhà xã hội học tiếp cận đạo đức từ góc độ mô tả hay tường thuật. Họ đưa ra những giả thuyết phổ quát để giải thích hành vi và các chọn lựa của cá thể hay tập thể trong xã hội và dùng cách giải thích này để làm sáng tỏ quan điểm đạo đức của các cá thể hay tập thể đó. Nói chung, khoa xã hội học tránh đề nghị một hệ thống luân lý hay xử lý nào cho xã hội, nhưng nếu họ bước vào phạm vi này thì họ trở thành các triết gia đạo đức học. Nhà nghiên cứu giáo dục có thể tìm cách áp dụng các học thuyết đạo đức nào cho thích hợp với quan điểm giáo dục của họ. Có những triết gia như Plato đã đi sâu hơn, khai triển về các chủ đề giáo dục đạo đức. Một nhà giáo dục sẽ cẩn thận cân nhắc về hậu quả và cách thức áp dụng đạo đức học trước khi đi đến quyết định chọn lựa. Nhưng họ không bận tâm về bản chất, ngôn ngữ hay cách lý luận của đạo đức học như triết học đạo đức. Thần học cũng khai thác các học thuyết đạo đức và hệ thống phán đoán cho thích ứng với truyền thống tôn giáo. Nhưng lý luận của thần học luân lý thì dựa trên “mạc khải” vốn đã được cộng đoàn các tín hữu thừa nhận rồi. Trong khi đó, triết học đạo đức dựa trên lý trí và nới rộng quan điểm của mình để bao gồm các lãnh vực rộng rãi hơn tôn giáo. Mục đích của triết học đạo đức là xác định tính nhất quán và hợp lý của các mô thức dùng trong lý luận đạo đức. Các nhà làm luật, chính quyền hữu trách cũng tra cứu mối tương quan giữa đạo đức học và pháp luật. Nhưng luật pháp và đạo đức là hai lãnh vực khác nhau. Hành vi trái với đạo đức không nhất thiết phải là vi phạm pháp luật cha mẹ nói dối với con cái. Hoặc hành vi phạm pháp chưa hẳn là xấu dùng xe không xin phép chủ để chở bệnh nhân đi cấp cứu. Tuy chính trị gia có thể phản đối việc “luật hóa” luân lý nhưng họ vẫn dùng triết đạo đức như nền tảng cho việc chú giải luật pháp hay bênh vực cho quan điểm của họ. Tài liện tham khảo Đạo Đức Học Tổng Quát. Joseph Tân Nguyễn, ofm. Nhà Xuất Bản Phương Đông, TP HCM, 2016.
triết học đạo đức